Đề thi HSG Ngữ văn 10 về sáng tác của Nguyễn Du

0
vannghiluanxahoi img - Đề thi HSG Ngữ văn 10 về sáng tác của Nguyễn Du

Đề thi HSG Ngữ văn 10 về sáng tác của Nguyễn Du

Hướng dẫn

TRƯỜNG THPT CHUYÊN TỈNH LÀO CAI

ĐỀ THI ĐỀ XUẤT

KỲ THI HỌC SINH GIỎI CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN

KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

LẦN THỨ XI, NĂM 2018

ĐỀ THI MÔN: NGỮ VĂN LỚP 10

Thời gian làm bài: 180 phút

(Đề thi gồm 02 câu, 01 trang)

Câu 1 ( 8 điểm)

Những hy vọng của tôi giảm xuống con số không khi tôi hai mươi mốt tuổi. Và kể từ đó, mọi thứ đều là phần thưởng.

Stephen Hawking (1942-2018)

Câu nói trên của nhà vật lí thiên tài gợi cho anh / chị suy nghĩ gì?

Câu 2 (12 điểm)

Một câu thơ hay là một câu thơ có sức gợi. Nguyễn Du không cạn lời, tả ít mà gợi nhiều, chỉ hé ra một chút mà hiện luôn cả một thế giới.

Lưu Trọng Lư ( 1912 – 1991)

Câu nói trên giúp anh chị cảm nhận được điều gì? Qua sáng tác của Nguyễn Du, hãy làm rõ.

————Hết———-

Người ra đề

Bùi Thị Phương Thúy

TRƯỜNG THPT CHUYÊN TỈNH LÀO CAI

ĐÁP ÁN ĐỀ THI ĐỀ XUẤT

HƯỚNG DẪN CHẤM THI HỌC SINH GIỎI

CÁC TRƯỜNG THPT CHUYÊN

KHU VỰC DUYÊN HẢI VÀ ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ

LẦN THỨ XI, NĂM 2018

MÔN: NGỮ VĂN LỚP 1

Thời gian làm bài: 180 phút

(Hướng dẫn chấm gồm 02 câu, 05 trang)

Câu 1 (8,0 điểm)

Yêu cầu về kĩ năng:

Biết cách làm bài nghị luận xã hội, bố cục rõ ràng, lập luận khúc chiết, diễn đạt lưu loát.

Yêu cầu về kiến thức:

Giải thích nội dung, ý nghĩa của câu nói ( 2,0 điểm):

Thí sinh cần rút ra nội dung ý nghĩa của câu nói thông qua việc giải thích từ ngữ, khái quát được vấn đề nghị luận. Học sinh có thể hiểu câu nói với một hay nhiều ý nghĩa khác nhau nhưng phải trên cơ sở có sự lí giải hợp lí, thuyết phục. Trong đó, cần làm nổi bật vấn đề: có thể ở một thời điểm nào đó trong cuộc đời, chúng ta gặp phải những biến cố, những sự mất mát vô cùng khủng khiếp, chúng ta không còn có thể bám víu vào đâu, có thể hoàn toàn trắng tay… và những điều mà ta nhận được sau đó mang những giá trị tuyệt vời và quý giá, bởi nó không phải là thành tựu của nền tảng và những kinh nghiệm, mà là kì tích diệu kì từ những con số không.

Phát biểu suy nghĩ của người viết về ý nghĩa của câu nói (5,0 điểm):

Bài viết của thí sinh có thể đồng tình, cũng có thể không hoàn toàn tán đồng với nội dung vấn đề, nhưng cần có lập luận, kiến giải vấn đề thuyết phục; cần trình bày được suy nghĩ, quan điểm của mình bằng những lí lẽ và dẫn chứng cụ thể. Có thể trình bày vấn đề với các ý cơ bản sau:

– Câu nói của Stephen Hawking là sự trải nghiệm, đúc kết của cuộc đời ông, đồng thời cũng mang một ý nghĩa triết lí có tính phổ quát, và ở một góc độ nào đó, đúng với mỗi chúng ta:

+ Trong cuộc sống, chúng ta không tránh khỏi có những khi, những chuyện, những lĩnh vực nào đó mà Những hy vọng giảm xuống con số không, đó là những khi chúng ta gặp một biến cố lớn nào đó về sức khỏe, một vấp ngã nào đó về trong sự nghiệp, một mất mát nào đó về tình cảm… khiến chúng ta cảm thấy cuộc đời đen tối, không còn chút niềm tin, niềm hy vọng nào.

+ Khi tưởng chừng như mọi thứ đã chấm hết, thì những gì chúng ta có được sau đó mang giá trị lớn lao, tuyệt vời hơn rất nhiều rất nhiều lần so với khi ta đạt được những điều đó trên một con đường bằng phẳng thuận lợi. Bởi đó không phải là những kết quả đơn thuần mà là những thành tựu, những kì tích có được bởi sự vươn lên, nỗ lực phi thường của ta sau những con số không. Không nền tảng, không kinh nghiệm, không còn lại gì của ngày hôm qua, chỉ có thứ duy nhất là một sự bứt phá diệu kì.

Xem thêm:  Đề thi chọn đội tuyển HSG văn 10 :Thơ ra đời cốt để nói những điều tinh vi nhất, sâu kín nhất, mong manh nhất, mơ hồ nhất của tâm hồn con người

+ Những gì đạt được sau này đều là phần thưởng bởi cảm giác, tâm thế của người đón nhận. Từ vực thẳm của tuyệt vọng đến việc đón nhận một điều gì đó dù là nhỏ bé cũng có thể đem lại cảm giác hạnh phúc. Đó là cảm giác thành tựu, niềm tin, tự hào; cảm giác chiến thắng, trong đó quan trọng nhất là chiến thắng chính mình.

– Bàn luận, mở rộng vấn đề:

+ Không thể có được phần thưởng sau khi hy vọng giảm xuống con số không khi mà ta ngập chìm trong bóng tối của tuyệt vọng, chấp nhận thất bại, cam chịu và buông xuôi. Bởi thế, bạn chỉ có được phần thưởng khi bạn không ngừng nỗ lực vươn lên hoàn cảnh của chính mình, dẫu nó có đen tối thê thảm đến đâu thì bạn vẫn thể có được những phần thưởng nếu không tự giới hạn mình, tự trói mình trong sự đớn hèn, nhu nhược, yếu đuối.

+ Cần biết trân trọng, nâng niu những gì mình có, những gì mình làm được, trân trọng sự sống. Hãy coi những gì mình được đón nhận, mình tạo ra bằng nỗ lực của chính mình là những phần thưởng quý giá của cuộc đời. Giống như một câu nói của Steve Jobs Hãy sống như hôm nay là ngày cuối cùng của bạn.

+ Cuộc đời không khi nào là sự đen tối vĩnh cửu hay sự tuyệt vọng tuyệt đối, khi cánh cửa này khép lại sẽ có cánh cửa khác mở ra, quan trọng bạn phải là người tìm cách mở cánh cửa ấy. Cuộc đời của Stephen Hawking là minh chứng cho điều đó. Niềm hy vọng giảm xuống con số không ở đây muốn nói đến biến cố ông phát hiện ra mình mắc căn bệnh hiếm ALS ( xơ cứng teo cơ một bên ) và được dự đoán sẽ chết sau 2-5 năm sau đó. Stephen Hawking đã chiến đấu một cách kiên cường với bệnh tật, là nhà vật lí thiên tài với những phát minh vĩ đại và qua đời ở tuổi 76. Phần thưởng của cuộc đời mà ông nhận được là sự vĩ đại.

Liên hệ thực tế và bản thân(1,0 điểm):

Mỗi người luôn phải ý thức sâu sắc cần cố gắng vươn lên trong cuộc sống, dù trong hoàn cảnh nào thì sự nỗ lực của mỗi chúng ta chính là điều quyết định nhất. Đồng thời phải biết trân trọng những gì chúng ta đang có, trân trọng cuộc sống này.

III. Biểu điểm

– Điểm 7- 8: Viết đúng kiểu bài nghị luận xã hội; trình bày vấn đề một cách sâu sắc, thuyết phục; văn phong chuẩn xác, biểu cảm; có thể mắc một vài lỗi nhỏ về chính tả và dùng từ.

– Điểm 5- 6: Viết đúng kiểu bài nghị luận xã hội; trình bày vấn đề cơ bản rõ ràng nhưng chưa thật sâu sắc; mắc một số lỗi nhỏ về diễn đạt và chính tả.

– Điểm 3- 4: Trình bày được khoảng một nửa yêu cầu về kiến thức; còn mắc lỗi về diễn đạt và chính tả.

– Điểm 1- 2: Bài viết tỏ ra chưa hiểu rõ vấn đề, lúng túng trong cách giải quyết, mắc nhiều lỗi diễn đạt và chính tả.

Câu 2 (12,0 điểm)

Yêu cầu về kĩ năng:

– Biết cách làm một bài nghị luận văn học.

– Bài viết có bố cục rõ ràng, kết cấu chặt chẽ, hành văn mạch lạc

Yêu cầu về kiến thức:

Từ việc hiểu đư­ợc nội dung ý kiến của Lưu Trọng Lư bàn về tiêu chí của một câu thơ hay là thơ mang sức gợi, bài làm thí sinh cần trình bày đư­ợc hiểu biết cơ bản về thể loại thơ trữ tình, trong đó một đặc trưng cơ bản là thơ có sức gợi; chứng minh được thơ Nguyễn Du hay bởi sức gợi sâu xa, ý vị. Bài viết của thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách khác nhau, song cần đảm bảo các ý cơ bản sau:

Xem thêm:  Giáo án bài Ca dao than thân yêu thương tình nghĩa

Giải thích

Một câu thơ là một đơn vị trong tổ chức của bài thơ trữ tình, là một tổ chức ngôn từ để hình thành ý thơ, thường là một dòng hoặc hai dòng (thơ lục bát); câu thơ hay muốn nói đến câu thơ có sự đặc sắc, thú vị, giàu giá trị thẩm mĩ, có thể đem lại khoái cảm thẩm mĩ đặc biệt cho người đọc; sức gợi muốn nói đến sự mở rộng khả năng thể hiện ra ngoài giới hạn của ngôn từ. Thơ và ngôn ngữ thơ phải cô động, giàu sức biểu hiện, sự tìm tòi công phu, cân nhắc kĩ lưỡng, chọn lọc có sáng tạo của nhà thơ với phương tiện phong phú và biến hóa.

– Câu nói là nhận định đúng đắn, sâu sắc, đề cao nghệ thuật thể hiện và ý tưởng sáng tạo của người nghệ sĩ.

Bình luận và chứng minh

Bình luận

– Thơ là một thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ tình. Thơ tác động đến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, những liên tưởng, tưởng tượng phong phú; thơ được phân chia thành nhiều loại hình khác nhau, nhưng dù thuộc loại hình nào thì yếu tố trữ tình vẫn giữ vai trò cốt lõi trong tác phẩm. Thơ tuy biểu hiện những cảm xúc, tâm sự riêng tư, nhưng những tác phẩm thơ chân chính bao giờ cũng mang ý nghĩa khái quát về con người, về cuộc đời, về nhân loại, đó là cầu nối dẫn đến sự đồng cảm giữa người với người trên khắp thế gian này.

– Thơ thường có dung lượng câu chữ ngắn hơn các thể loại khác (tự sự, kịch). Hệ quả là nhà thơ biểu hiện cảm xúc của mình một cách tập trung hơn thông qua hình tượng thơ, đặc biệt thông qua ngôn ngữ nghệ thuật, qua dòng thơ, qua vần điệu, tiết tấu… Nhiều khi, cảm xúc vượt ra ngoài cái vỏ chật hẹp của ngôn từ, cho nên mới có chuyện “ý tại ngôn ngoại”. Do đó, thơ có thể tạo điều kiện cho người đọc thực hiện vai trò “đồng sáng tạo” để phát hiện đời sống, khiến người đọc phải suy nghĩ, trăn trở để tìm kiếm ý đồ nghệ thuật của tác giả cũng như những điểm đặc sắc trong tư duy nghệ thuật của mỗi nhà thơ.

– Ngôn ngữ thơ chủ yếu là ngôn ngữ của nhân vật trữ tình, là ngôn ngữ hình ảnh, biểu tượng. Ý nghĩa mà văn bản thơ muốn biểu đạt thường không được thông báo trực tiếp, đầy đủ qua lời thơ, mà do tứ thơ, giọng điệu, hình ảnh, biểu tượng thơ gợi lên. Do đó ngôn ngữ thơ thiên về khơi gợi, giữa các câu thơ có nhiều khoảng trống, những chỗ không liên tục gợi ra nhiều nghĩa, đòi hỏi người đọc phải chủ động liên tưởng, tưởng tượng, thể nghiệm thì mới hiểu hết sự phong phú của ý thơ bên trong.

– Mỗi câu thơ đọc lên cảm giác như được viết ra một cách rất tự nhiên, nhưng thực ra đều có sự cân nhắc thích hợp với từng đối tượng và từng trạng thái tình cảm. Ngôn ngữ thơ ca đòi hỏi sự chọn lọc chính xác tinh tế và có sáng tạo. Thông qua sự chọn lọc này, nhà thơ vừa phải tuân thủ một cách đầy đủ những quy tắc của ngôn ngữ đời sống lại vừa thể hiện tính chất chủ động trong sáng tạo

Những cách sử dụng ngôn ngữ có chọn lọc và sáng và sáng tạo mới đem lại cho ngôn ngữ thơ ca nhiều phẩm chất đáng quý. Ngôn ngữ chân chất, mộc mạc nhưng vô cùng trong sáng của thơ ca đã kết tụ lại ở những câu ca chứa chan thi vị và giàu sức biểu hiện.

Xem thêm:  Đề thi chọn đội tuyển học sinh giỏi văn 10 năm 2018

Đọc câu thơ hay ta như không còn thấy câu chữ nữa. Cái hay nằm trong sự giản dị. Nếu cố làm duyên làm dáng, điểm phấn tô son, đánh bóng ngôn từ sẽ sa vào xu hướng “vị nghệ thuật” thuần túy. Mây gió, cỏ hoa xinh tươi đến đâu hết thảy cũng đều từ trong lòng người nảy ra (Ngô Thời Nhậm). Có xúc cảm tốt, tìm được tứ thơ mới lạ nhưng nếu vốn ngôn ngữ nghèo nàn thì khó có được thơ hay.

Chứng minh

Học sinh phân tích một số câu thơ trong các tác phẩm đã học, đã đọc của Nguyễn Du để chứng minh rằng đó là những câu thơ hay, và cái hay đó được tạo nên bởi sức gợi của thơ ( Phân tích được tính chất “hé lộ” trong thơ, làm rõ được “thế giới” mà thơ gợi ra). Từ đó khẳng định tài năng, tâm hồn của Nguyễn Du.

Mở rộng, nâng cao, khái quát vấn đề

– Sáng tác được những câu thơ giàu sức gợi là tài năng, tâm huyết của nhà thơ. Người cầm bút phải từ đặc trưng này của thơ mà làm thơ như mọt hoạt động sáng tạo công phu và nghiêm túc, viết nên những vần thơ giàu giá trị nghệ thuật, diễn tả được những tình cảm tinh tế, mãnh liệt, lắng sâu.

– Người đọc thơ cảm nhận nội dung, ý nghĩa bài thơ qua câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu, kết cấu, các biện pháp tu từ… nhưng quan trọng nhất là sự liên tưởng, suy tưởng, cảm thụ… những điều mà nhà thơ gợi ra trong quá trình cảm thụ thơ.

– Tiêu chí một câu thơ, một bài thơ hay vốn không phải mang tính quy ước, bất biến. Mỗi nhà thơ, mỗi người cảm thụ có “gu” và thiên hướng riêng, bởi vậy, cũng không nên cứng nhắc, khuôn mẫu trong việc đánh giá, nhận định về thơ…

III.Biểu điểm:

– Điểm 11 – 12: Bài viết đáp ứng đầy đủ các yêu cầu trên, sâu sắc, độc đáo; diễn đạt lưu loát, câu văn giàu hình ảnh, cảm xúc; có thể mắc một vài lỗi nhỏ về chính tả và dung từ.

– Điểm 9 – 10: Bài viết có nội dung tương đối đầy đủ (có thể còn thiếu một vài ý nhỏ); bố cục rõ ràng; diễn đạt trôi chảy; câu văn có hình ảnh, cảm xúc. Mắc một số lỗi nhỏ về chính tả, dùng từ, viết câu.

– Điểm 7 – 8: bài viết đáp ứng khoảng 2/3 nội dung cơ bản của đáp án. Văn có thể chưa hay nhưng rõ ý. Mắc một số lỗi chính tả, dùng từ, viết câu.

– Điểm 5 – 6: Bài viết đáp ứng khoảng ½ nội dung cơ bản của đáp án. Mắc nhiều lỗi hành văn, chính tả.

– Điểm 3 – 4: Hiểu và trình bày vấn đề còn sơ sài; kết cấu không rõ ràng; còn mắc nhiều lỗi diễn đạt.

– Điểm 1 – 2: Không hiểu đề, không có kĩ năng nghị luận, mắc quá nhiều lỗi diễn đạt.

*L­­ưu ý:

– Trên đây chỉ là những gợi ý có tính chất định h­­ướng, giám khảo cần thảo luận kỹ về yêu cầu và biểu điểm để bổ sung cho hoàn chỉnh trư­­ớc khi chấm.

– Ngư­­ời chấm cần linh hoạt trong đánh giá, cần căn cứ vào tình hình và chất lư­­ợng thực tế của mỗi bài làm để cho điểm thích hợp.

– Cần khuyến khích những tìm tòi, sáng tạo riêng cả trong nội dung và hình thức của bài làm.

———–Hết———-

Người ra đề

Bùi Thị Phương Thúy

Theo Vannghiluanxahoi.com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *