Đề thi thử THPTQG năm 2018 Môn Ngữ Văn – THPT Chuyên Lam Sơn – Thanh Hóa (Có lời giải)

0
vannghiluanxahoi img - Đề thi thử THPTQG năm 2018 Môn Ngữ Văn – THPT Chuyên Lam Sơn – Thanh Hóa (Có lời giải)

Đề thi thử THPTQG năm 2018 Môn Ngữ Văn – THPT Chuyên Lam Sơn – Thanh Hóa (Có lời giải)

Hướng dẫn

Mục Lục

  • 1 ĐỀ BÀI
  • 2 HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

ĐỀ BÀI

I. ĐỌC HIỂU

Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:

… Bây giờ, tôi muốn bạn xem lại hai thực đơn mà lâu nay bạn cũng như xã hội vẫn dùng. Chúng ta đang chạy đua nhiều lúc quá sức cho thực đơn thể chất của chúng ta. Chúng ta tìm mọi cách để có được những thực phẩm tốt nhất, ngon nhất, và lạ nhất để phục vụ mình. Chúng ta thường cất câu hỏi: Hôm nay sẽ ăn gì? Thế nhưng, chúng ta hầu như không cất tiếng hỏi: Hôm nay chúng ta sẽ đọc gì, xem gì, nghe gì. Khi chúng ta kiếm được tiền thì hầu như chúng ta chỉ nghĩ đến việc hưởng thụ vật chất như ăn uống, mua sắm, tích lũy mà chúng ta quá ít nghĩ đến việc tổ chức một cuộc sống tinh thần. Nhiều người khi có một mảnh đất rộng thường xây một ngôi nhà càng to càng tốt mà không nghĩ đến một mảnh vườn để trồng cây và hoa và chim chóc đến ở…

Mới đây, tôi xem một bộ phim nói về một dự án của các sinh viên thuộc một số trường đại họ ở Tokyo Nhật Bản. Những sinh viên này lập ra một dự án có tên Dự án Phục hồi Kỷ niệm. Công việc của dự án là tìm lại những bức ảnh của các gia đình bị trận sóng thần trước đó cuốn đi… Có một người cha chỉ có duy nhất một đứa con gái nhưng đã bị sóng thần cướp đi sinh mạng. Ông không còn bất cứ tấm ảnh nào của con ông. Dự án Phục hồi Kỷ niệm đã tìm lại được một tấm ảnh con gái ông. Với ông, tấm ảnh đứa con gái bé bỏng của mình đã trở thành tài sản quý báu nhất của ông và làm cho nỗi đau đớn mất con của ông vơi đi rất nhiều. Vật chất và đời sống đầy đủ của nước Nhật không thể mang đến cho người cha kia hạnh phúc nhưng một kí ức đẹp đã cứu ông khỏi đau đớn và tuyệt vọng…

(Nguyễn Quang Thiều – Người Việt đang sống với tâm hồn khô cằn?)

Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích. (nhận biết)

Câu 2: Hai thực đơn này được tác giả đề cập đến trong văn bản là gì? (thông hiểu)

Câu 3: Nhận xét của Anh/chị về Dự án Phục hồi Kỷ niệm của những sinh viên Nhật được đề cập trong đoạn trích trên. (thông hiểu)

Câu 4: Qua việc đọc hiểu đoạn trích trên, anh chị có nhận thức như thế nào về một cuộc sống hạnh phúc thực sự. (vận dụng)

II. LÀM VĂN

Câu 1

Từ nội dung đoạn trích trên, anh chị hãy viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về những hậu quả của việc: Chúng ta quá ít nghĩ đến việc tổ chức một cuộc sống tinh thần. (vận dụng cao)

Câu 2

Cảm nhận của anh/chị về hai đoạn thơ sau đây:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

(Tây Tiến – Quang Dũng – Ngữ Văn 12, Tập một)

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đình núi nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

(Việt Bắc – Tố Hữu – Ngữ Văn 12, Tập một)

HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

I. ĐỌC – HIỂU

Câu 1:

*Phương pháp: Dựa vào kiến thức đã học về phương thức biểu đạt. Căn cứ vào đặc điểm của văn bản để tìm ra phương thức biểu đạt phù hợp.

*Cách giải: Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.

Xem thêm:  Viết đoạn văn Nghị luận xã hội 200 chữ : “Đôi khi có thể bạn đi nhầm đường, nhưng nếu bạn vẫn cứ đi, nó có thể là con đường mới”

Câu 2:

*Phương pháp: Dựa vào kĩ năng đọc – hiểu, kĩ năng quan sát.

*Cách giải:

Hai thực đơn này được tác giả đề cập đến trong bài là thực đơn thể chất (vật chất) và thực đơn cho cuộc sống tinh thần.

Câu 3:

*Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.

*Cách giải:

Học sinh trình bày nhận xét, quan điểm cá nhân, có thể dựa vào một số gợi ý sau:

+ Dự án này chính là một lời khẳng định vai trò to lớn của đời sống tinh thần đối với mỗi con người. Cuộc sống bề bộn với gánh nặng vật chất đôi khi làm người ta lãng quên đi những giá trị tinh thần vô giá. Dù vậy, đời sống tinh thần vẫn là yếu tố cần thiết và không thể thiếu để có cuộc sống hạnh phúc.

+ Đây là một dự án có ý nghĩa vô cùng to lớn, không chỉ đối với đất nước Nhật Bản mà còn đối với tất cả các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Nó chứng tỏ rằng sinh viên Nhật Bản ý thức được mối quan hệ giữa yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần trong cuộc sống con người, là điều mà thế hệ trẻ hiện nay cần học hỏi.

Câu 4:

*Phương pháp: Phân tích, tổng hợp, bình luận.

*Cách giải:

Học sinh trình bày nhận xét, quan điểm cá nhân, có thể dựa vào một số gợi ý sau:

+ Một cuộc sống hạnh phúc thực sự là một cuộc sống có sự cân bằng, hài hòa giữa yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần.

+ Yếu tố vật chất cần thiết cho cuộc sống hạnh phúc, tuy nhiên, con người cần biết sử dụng yếu tố vật chất như một phương tiện để tạo nên một đời sống tinh thần phong phú, giàu có.

II. LÀM VĂN

Câu 1:

*Phương pháp: Sử dụng các thao tác lập luận để tạo lập một đoạn văn nghị luận xã hội (bàn luận, so sánh, tổng hợp,…).

*Cách giải:

  • Yêu cầu:

Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn.

Thí sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng – phân – hợp, móc xích hoặc song hành.

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: Hậu quả của việc: Chúng ta quá ít nghĩ đến việc tổ chức một cuộc sống tinh thần

Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm; vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng; rút ra bài học nhận thức và hành động.

Đảm bảo các quy tắc chính tả, dùng từ, đặt câu.

Có cách diễn đạt sáng tạo, thể hiện suy ngẫm sâu sắc, mới mẻ về vấn đề nghị luận.

  • Gợi ý:

+ Giới thiệu vấn đề

+ Giải thích vấn đề: Tinh thần là những gì thuộc về ý nghĩa, tình cảm,… thuộc về nội tâm của con người. Như vậy cuộc sống tinh thần có thể hiểu là những hoạt động để duy trì yếu tố tinh thần của con người.

+ Khái quát thực trạng: Một thực trạng vô cùng đáng buồn hiện nay đó là con người ngày càng chạy theo những nhu cầu, mong muốn vô tận về vật chất mà bỏ quên việc phải xây dựng đời sống tinh thần.

+ Nêu hậu quả:

Việc quá ít nghĩ đến việc xây dựng đời sống tinh thần sẽ dẫn đến việc đời sống tinh thần con người ngày càng trở nên khô héo, đơn điệu, nhàm chán.

Quá ít nghĩ đến việc tổ chức một cuộc sống tinh thần cũng chính là nguyên nhân gây ra hiện tượng vô cảm trong cuộc sống ngày nay.

Vô cảm, đời sống tinh thần đơn điệu, bị bỏ quên sẽ dẫn đến việc con người không biết cách cư xử với nhau, không biết đến lòng nhân văn nhân ái. Dễ mắc các thói kiêu ngạo, tàn nhẫn, vô tâm.

Xem thêm:  Nghị luận xã hội về hạnh phúc gia đình

Đời sống tinh thần con người không phong phú cũng góp phần làm cho hiệu quả công việc giảm sút, kìm hãm sự phát triển kinh tế cá nhân và xã hội.

+ Giải pháp:

Bồi đắp tâm hồn bằng những hoạt động nghệ thuật như: đọc sách, đọc thơ, nghe nhạc, ngắm tranh, trồng cây …Hiểu một bài thơ hay, đọc một quyển sách hay, ngắm một bức tranh đẹp, nghe một bài nhạc đặc sắc v.v… đều làm cho ta có những cảm xúc tuyệt vời về cái Đẹp. Những cảm xúc tuyệt vời về cái Đẹp sẽ dẫn đến những hành động đẹp trong cuộc sống.

Câu 2:

*Phương pháp:

_Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng)

_Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập một văn bản nghị luận văn học.

*Cách giải:

  • Yêu cầu:

Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận.

Có đủ các phần mở bài, thân bài, kết bài. Mở bài nêu được vấn đề, thân bài triển khai được vấn đề, kết bài kết luận được vấn đề.

_Xác định đúng vấn đề cần nghị luận: cảm nhận về hai đoạn thơ, chỉ ra được nét tương đồng và khác biệt.

_Triển khai vấn đề nghị luận thành các luận điểm, thể hiện sự cảm nhận sâu sắc và vận dụng tốt các thao tác lập luận; kết hợp chặt chẽ giữa lí lẽ và dẫn chứng.

  • Gợi ý:
  1. Giới thiệu khái quát về 2 tác giả, 2 tác phẩm, 2 đoạn trích:

_ Quang Dũng (1921-1988), quê Hà Nội. Ông là một nghệ sĩ đa tài với hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn. Tố Hữu (1920-2002), quê ở Huế, một nhà thơ tiêu biểu của dòng thơ cách mạng Việt Nam với hồn thơ đậm đà tính dân tộc.

_ Tây Tiến (1948), Việt Bắc (1954) đều là những thành tựu đặc sắc của thơ ca kháng chiến chống Pháp, đều là những bài ca không thể nào quên về một thời gian khổ mà hào hùng, hào hoa của lịch sử dân tộc.

_ Hai đoạn thơ trên đều viết về nỗi nhớ của các tác giả với núi rừng Tây Bắc và một quãng đời không thể nào quên.

  1. Phân tích:

a.Cảm nhận về đoạn thơ trong bài “Tây Tiến” của Quang Dũng:

* Nội dung:

– Trước hết là khung cảnh thiên nhiên

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

+ Không gian được bao trùm bởi một màn sương giăng mắc trở nên mờ ảo, như hư, như thực. ương chiều bảng lảng đầy thi vị, chứ không còn là sương lấp đoàn quân mỏi khi màn đêm buông xuống

+ Sông nước, bến bờ lặng tờ, hoang dại như thời tiền sử, chỉ có màu lau trắng trải dài tít tắp, phất phơ theo chiều gió thổi, xôn xao ẩn chứa những nỗi niềm của con người… Thiên nhiên như có linh hồn, hồn lau hài hòa với hồn thơ của những người lính đa cảm. Cũng có thể hiểu hồn lau là một ẩn dụ đặc sắc gợi về vẻ đẹp giản dị, gần gũi, hồn hậu của những con người miền Tây- những người lao động trên sông nước mênh mông.

– Trên nền thiên nhiên tĩnh lặng và thơ mộng đó nổi bật hình ảnh con người

“Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

+ Dáng người trên độc mộc phải chăng đó là dáng hình mềm mại, uyển chuyển của thiếu nữ sơn cước trên chiếc thuyền độc mộc trên dòng sông Mã, tạo nên chất thơ làm tiêu tan vẻ dữ dội của dòng nước lũ hung hãn

+ Như để hoà hợp với con người, những bông hoa rừng cũng đong đưa làm duyên trên dòng nước xiết. Hoa đong đưa là một hình ảnh lạ, hoa lá vô tri như được thổi hồn vào, gợi ra ánh mắt lúng liếng tình tứ của những cô gái vùng núi xinh đẹp trẻ trung.

Xem thêm:  Đề thi học sinh giỏi về bài Chí Phèo- Nam Cao-đề số 6

+ Dường như trong khổ thơ nào của bài thơ cũng thấp thoáng bóng dáng của người đẹp như vậy:

– Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

– Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

– Mai Châu mùa em thơm nếp xôi (đoạn 1)

– Kìa em xiêm áo tự bao giờ

– Đêm mơ à ội dáng kiều thơm (đoạn 3)

Hình ảnh người đẹp thấp thoáng trong các khổ thơ đã điểm cho kí ức Tây Tiến chút lãng mạn, mơ mộng, khiến cho câu chữ trở nên mềm mại hơn và lòng người cũng nhẹ nhàng hơn…

_ Những từ có thấy, có nhớ là những lời tự hỏi lòng mình đầy bâng khuâng, lưu luyến khi đã cách xa với ây iến cả về không gian và thời gian…

*Nghệ thuật: Bút pháp lãng mạn được tác giả sử dụng một cách tinh tế khiến hình ảnh thiên nhiên và con người miền Tây hiện lên độc đáo…

b.Cảm nhận về đoạn thơ trong bài “Việt Bắc” của Tố Hữu:

* Nội dung:

_ Đây là lời của người đi (những cán bộ kháng chiến đã từng gắn bó và công tác ở Việt Bắc, trong đó có Tố Hữu), khẳng định với người ở lại rằng: dù về xuôi, dù xa cách nhau về không gian địa lí nhưng vẫn nhớ Việt Bắc như nhớ người yêu. Từ đó, muốn nói nỗi nhớ của tình yêu là nỗi nhớ cháy bỏng, nỗi da diết nhất, thường trực nhất, để từ đó khẳng định nỗi nhớ và tấm lòng thủy chung của mình với Việt Bắc – suối nguồn nuôi dưỡng của cách mạng.

_ Sau lời khẳng định là những hình ảnh thiên nhiên và con người Việt Bắc đẹp như khúc hát đồng quê. Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương, bản khói cùng sương,… là hình ảnh rất đặc trưng cho khung cảnh núi rừng êm đềm, thơ mộng ở Việt Bắc. Trên cái nền trữ tình là hình ảnh con người Việt Bắc tần tảo, chịu thương chịu khó. Con người và thiên nhiên hài hòa gắn bó trong nỗi nhớ người về xuôi.

* Nghệ thuật:

_ Các hình ảnh trong hoài niệm nhưng hiện lên thật cụ thể, rõ nét, chứng tỏ sự gắn bó sâu sắc và nỗi nhớ tha thiết.

_ Thể thơ lục bát cùng với biện pháp so sánh, điệp từ… đã góp phần thể hiện sâu sắc nỗi nhớ và tấm lòng thủy chung của người về.

c.So sánh hai đoạn thơ:

_ Sự tương đồng: Hai đoạn thơ tiêu biểu cho thơ ca thời kì kháng chiến chống Pháp, thể hiện vẻ đẹp của thiên nhiên và con người Việt Bắc, Tây Bắc và tình cảm gắn bó của tác giả đối với con người và miền đất xa xôi của Tổ quốc.

_ Sự khác biệt:

+ Thiên nhiên Tây Tiến trong thơ Quang Dũng hoang vu nhưng đậm màu sắc lãng mạn, hư ảo; con người hiện lên trong vẻ đẹp khỏe khoắn mà duyên dáng; thể thơ thất ngôn mang âm hưởng vừa cổ điển vừa hiện đại.

+ Thiên nhiên Việt Bắc trong thơ ố Hữu gần gũi, quen thuộc mà trữ tình; con người Việt Bắc hiện lên trong tình nghĩa cách mạng thủy chung; thể thơ lục bát mang âm hưởng ca dao dân ca.

_ Lí giải:

* Hai đoạn thơ, hai bài thơ có nét tương đồng vì đều được sáng tác trong thời kì kháng chiến chống Pháp.

* Tuy nhiên, mỗi đoạn thơ, bài thơ lại có nét riêng vì các nhà thơ bộc lộ nỗi nhớ với các địa danh khác nhau, mang cảm xúc khác nhau và phong cách sáng tạo nghệ thuật khác nhau.

  1. Đánh giá chung:

Với hồn thơ đậm đà tính dân tộc, lãng mạn, hào hoa, phóng khoáng, Tố Hữu và Quang Dũng đã làm nổi bật nỗi nhớ thiết tha, sâu nặng về quê hương cách mạng và đơn vị cũ.

Theo Vannghiluanxahoi.com

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *